Từ khóa tìm kiếm
Danh mục chính
Địa điểm
|
Những di tích lịch sử tiêu biểu của huyện Kỳ Anh
Không chỉ nổi tiếng với cảnh sắc thiên
nhiên đẹp đến Kỳ lạ (nghĩa của từ Kỳ Anh), vùng đất Kỳ Anh còn chứa
đựng trong mình truyền thống lịch sử lâu đời, cùng với đó là các di
tích lịch sử văn hóa có giá trị.
__________________________________________________________
Đến huyện lỵ Kỳ Anh, đi về hướng đông theo con đường liên xã, hay xuôi theo dòng sông Trí khoảng 7 - 8km, tới thôn Hải Khẩu (xã Kỳ Ninh), sẽ thấy một ngôi đền cổ kính. Đó là đền thờ Nguyễn Thị Bích Châu, còn gọi là đền Bà Hải, đền Hải Khẩu, hay đền Chế Thắng phu nhân, cung phi vua Trần Duệ Tông, một người phụ nữ tài sắc vẹn toàn. ![]() (Đền Bích Châu nhìn từ trước điện chính) Nguyễn Bích Châu quê ở xã Bảo Lộc, huyện Hải Hậu, tỉnh Đền Bích Châu được xây dựng trên bãi đất pha cát biển rộng khoảng
4.500m2, quay về hướng đông nam. Phía trước đền, từ trái sang phải
là núi Ô Tôn có đền Eo Bạch được xây dựng cuối đời Trần. Vũng Áng còn gọi là
"Cửa Cá" nổi tiếng với nhiều hải sản quý như tôm hùm, mực, yến sào...
Núi Cao Vọng có hang nhỏ tương truyền là nơi ẩn náu của Hồ Hán Thương vào năm
1407. Sau lưng đền, xa xa là núi Bàn Độ có đầm Tiên nữ, có bàn cờ tiên, xưa là
nơi có rất nhiều hươu sao. Đỉnh núi bằng phẳng giống như cái mâm vàng đặt qua
biển (kim bàn đồ hải) nên có tên là núi Bàn Độ. Đền được xây dựng thời Trần chỉ
có tiền miếu hậu lăng, đến năm 1470 đền có 3 toà, trải qua thời gian đền được
tu sửa tôn tạo nhiều lần. Nằm trong vùng "cửa gió" nên có những bộ
phận đã bị cát vùi lấp chỉ còn một phần như hai cột nanh, cổng Tam quan. Nhân
dân địa phương mở cổng phụ để đi vào đền. Toàn bộ khu di tích có thể chia thành
hai khu vực: - Khu công trình phụ gồm cổng phụ, đường đi, cổng chính và nhà quan tả. - Khu công trình chính gồm hạ điện, trung điện và thượng điện nhà tiếp
khách, nhà sắc và khu hành lang. Toàn bộ công trình của đền hiện tại được bao quanh bằng cát bồi lấp thành bức tường tự nhiên. Ba toà điện Hạ điện, Trung điện, Thượng điện và nhà dâng hương là hệ thống nối liền khép kín với nhau kiến trúc theo kiểu chữ Công (I). Phía sau thượng điện tương truyền có mộ của bà Quý phi Nguyễn Thị Bích Châu. ![]() (Một góc Đền Bích Châu) Tại xã Kỳ Bắc, huyện Kỳ Anh có một ngôi đền cổ kính đó là đền Phương
Giai thờ Hoàng giáp Dương Trí Tri, một ông quan có tài và nhiều công lao to lớn
trong việc bốc thuốc chữa bệnh cho nhân dân vào thời nhà Mạc. Tục truyền rằng
vào thời đó tại vùng phía bắc huyện Kỳ Anh có dịch bệnh đậu mùa trẻ em ông
Hoàng giáp chỉ có những vị thuốc Nam đã cứu được rất nhiều trẻ em thoát khỏi
nạn dịch trở về cuộc sống. Với công lao đó sau khi ông mất nhân dân địa phương
đã lập đền thờ. Đền Phương Giai ngoài ý nghĩa tâm linh, trong giai đoạn lịch sử hiện
đại còn có ý nghĩa lịch sử cách mạng, đó là nơi diễn ra Đại hội thành lập Đảng
bộ huyện Kỳ Anh và trụ sở UBND huyện Kỳ Anh trong thời kỳ Xô Viết Nghệ Tĩnh. Đền xây dựng trên diện tích một mẫu 5 sào Trung Bộ, cao hơn diện tích xung quanh 1, 5m ngoảnh mặt hướng đông bắc. Ngày xưa đền có 3 to à, kết cấu chữ Tam lợp ngói vẫy, có tường bao quanh. Ngày nay do chiến tranh và thiên nhiên tàn phá hệ thống tường, cột nanh, cổng tam quan, nhà Thượng điện bị phá huỷ, chỉ còn lại nhà Hạ điện và Trung điện. Kiến trúc các ngôi nhà đơn giản, theo lối truyền thống của nhân dân địa phương. ![]() (Đền Phương Giai - Kỳ Bắc) 3. Đền thờ Lê Quảng Chí, Lê Quảng Ý - Kỳ Phương Đền ở làng Thần Đầu, nay là xã Kỳ Phương, huyện Kỳ Anh, sử sách thường
chép là "Đền Thần Đầu", dân gian thì gọi "Đền hai quan
Trạng", có 3 toà ở 3 chỗ khác nhau: "Lãm Sơn Tiên sinh từ" thờ
Lê Quang Chí, "Bảng Quận công từ" thờ Lê Quảng Ý” và "Thần Đầu
từ" thờ chung hai người. Lê Quảng Chí và Lê Quảng Ý là hai anh em ruột quê làng Sơn Đầu sau đổi
thành Thần Đầu, phủ Hà Hoa, nay là xã Kỳ Phương huyện Kỳ Anh. Hai ông con nhà
nghèo lúc nhỏ phải đi ở cho nhà giàu ở một miền xa để kiếm sống. Chủ nhà thấy
thông minh bèn nuôi cho hai người ăn học đến lúc thi đỗ mới về làng. Lê Quảng
Chí (1451-1533) đỗ Nhất giáp Tiến sĩ đệ nhị danh Đình Nguyên khoa Mậu Tuất
(1478) ông làm quan đến Tả Thị lang bộ Lễ kiêm đông các Đại học sĩ. Năm 60
tuổi, ông về quê trí sĩ, mở trường dạy học, ông mất năm 82 tuổi, mộ chôn dưới
chân núi Hoành Sơn. Còn Lê Quảng Ý (1453-1526) đỗ đồng Tiến sĩ khoa Kỷ Vị đời
Lê Hiến Tôn làm quan đến Hà Lâm viện thị chế, đặc tiến Kim tử Vinh lộc đại phu,
Hiến sứ kiêm đề lĩnh tư thành quân vụ, tước Bảng Quận công, ông mất năm 73
tuổi, mộ táng dưới chân núi Hoành Sơn. Mộ và đền thờ của Lê Quang Chí và Lê Quảng Ý đều ở gần nhau. Xưa có câu
đối ngợi ca hai ông: "Nhất ngôn khoa giáp nam huynh đệ Song
miếu anh linh tự cổ kim" (Khoa giáp một nhà, ai bác chú? Anh linh hai miếu tự xưa nay). Về sau xã Hoằng Lệ, tổng Hoằng Lệ lại lập
thêm ngôi đền thờ chung hai ông ở gần mộ. Hiện nay ngôi đền do xã Hoằng Lệ dựng
và ngôi đền Bảng Quận công do làng Thần Đầu dựng đều không còn. Đền Lãm Sơn
tiên sinh đã hư hỏng nặng. Trong đền còn lại một rương nhỏ đựng một số màn
trướng, thờ vải thêu, và 16 đạo sắc phong thần (Lê Quang Chí 13 đạo, Lê Quảng Ý
3 đạo), sớm nhất là vào niên hiệu Dương Hoà thứ 5 đời Lê Thần tôn (1639), muộn
nhất vào niên hiệu Khải Định thứ 9 (1924). 4. Đền thờ Phạm
Hoành (Đền Chào) - Kỳ Thọ Tương truyền, Phạm Hoành là con trai cả của
Khuê quận ông Phạm Định, cháu 4 đời của Thọ quận công Phạm Tiêm. Từ khi cụ thân
sinh mất, ông phải đi ở chăn bò cho một nhà địa chủ họ Nguyễn ở làng Hưng Nhân.
Vì phải đi ở, không thể vào lớp học nhưng ông đã lấy than bùn làm bút, lấy lá
chuối khô viết bài. Tên địa chủ đánh đập, đi tìm bắt nên ông đã trốn đến xứ
Ngọc Sơn, Đông Huấn, tại đây ông gặp quan Thượng thư Quyền Tri Hữu Tướng có con
ngựa Long Khấu chạy rông, binh lính không ai bắt được, bèn nhờ ông bắt hộ, ông
nói: “Bụng đang đói, có cho tôi ăn no thì tôi sẽ bắt cho” . Quân lính vội
vàng nấu cơm cho ông ăn, sau khi ăn một
thúng cơm, uống một vò nước, Phạm Hoành
đã đuổi bắt được ngựa trong chốc lát. Quan thượng thư khâm phục ban thưởng, từ
đó ông ở với quan giúp dân trong vùng huần luyện ngựa. Quan Thượng thư có con ngựa “Hồng Lân Phi”
giao cho ông chăm sóc. Một lần quan Thượng thư ốm, giao cho ông cưỡi ngựa vào
hầu vua, được vua ban thưởng cho một con ngựa khác tên là “Hồng Lân”, ông nhảy
lên ngựa phi 5 vòng nhanh như gió, vua rất cảm phục và ban thưởng 5 kho lúa, từ
đó ông trở thành người huấn luyện ngựa giỏi của triều đình. Năm Quý
Sửu (1543) vua truyền họ Mạc có con ngựa nước ngoài tên là “Đại Lan”
chạy ngàn dặm không mỏi, nếu đoạt được,
đi trận ắt thành công. Vua cử ông và Tả tướng
quân đi bắt ngựa. Sau đó ông và
Tả tướng quân đến Cương Quán - xứ Thanh Hóa
bắt được ngựa hiến cho Tả tướng quân dâng lên vua. Từ đó ông cùng Tả
tướng quân đã lập nhiều chiến tích giúp
vua đánh chống nhà Mạc. Trong lúc truy kích quân nhà Mạc ở Hoan Châu
- Nghệ An, ông bị tập hậu, bị thương nhẹ, ông ra khỏi đất Hoan Châu về quê điều
trị rồi từ trần vào ngày 6 tháng giêng năm Quý Tỵ (1593). Được tin ông mất, vua rất thương tiếc bèn
phong sắc cho ông là Điện Quân công Hổ Oai đại tướng quân thần và lập đền thờ Phạm Hoành tại làng Sơn Triều nay là Tân Thọ -
xã Kỳ Thọ. Để ghi nhớ công lao của vị tướng Phạm Hoành,
trong thượng điện có ghi 2 câu đối của
tri huyện Nguyễn Giao: Kiếm mã đường đường sinh bất tử Uy linh hách hách cổ kim nhi. Nghĩa là: Đường đường thanh gươm yên ngựa sống
mãi không mất Uy linh lừng lẫy từ xưa tới nay.
(Đền thờ Phạm Hoành - Kỳ Thọ) ![]() ![]() (Miếu thờ Liễu Hạnh - Kỳ Nam) .... và còn nhiều di tích nữa, CÁC TIN TRƯỚCCÁC TIN TIẾP THEO |
Theo bạn, KKT Vũng Áng sẽ phát triển như thế nào trong thời gian tới (đến 2025)?
Thành trung tâm KT, VH của miền TrungThành Đô thị Nam Hà Tĩnh Sẽ vẫn phát triển cầm chừng
|
||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||
| Bản quyền thuộc 1836.vn, không được sao chép dưới mọi hình thức Thông tin trên website mang tính tham khảo, chỉ dẫn, không có tính ràng buộc Email: Kyanh1836@gmail.com - kyanh@1836.vn Hotline: 0976670055 http://1836.vn - http://kyanh.net - Tin tức mua bán tại huyện Kỳ Anh và KKT Vũng Áng * Ghi chú: Nội dung và hình thức thông tin trên 1836.vn không phản ánh đầy đủ năng lực của nhà cung cấp |
|